VĂN HÓA TRÀ

Đến nay, theo thống kê, có đến hơn 400 định nghĩa về Văn hóa. Tại Hội nghị quốc tế từ ngày 26/7 đến 06/8/1982 tại Mehico, UNESCO nêu trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa.
Lịch sử phát hiện và sử dụng trà được ghi nhận có từ 2.700 năm trước Công nguyên, từ Tứ Xuyên, Trung Quốc lan tỏa trên lưu vực sông Dương Tử (Trường Giang ngày nay). Sản phẩm trà được sử dụng trước hết là làm thuốc giải độc và kích thích, sau mới làm nước giải khát.
Mãi đến năm 801 sau Công nguyên, các nhà sư Nhật Bản tu tại chùa Quốc Thanh, Thiên Đài, Chiết Giang, Trung Quốc mang hạt giống chè về trồng ở Shiga Ken, Nhật Bản, kể từ đó, cây chè mới được trồng và sử dụng ngoài đất nước Trung Hoa.
Theo UNESCO, đến nay đã có hơn nửa dân số Thế giới dùng trà, có 58 nước trồng trà, trong đó có hơn 40 nước sản xuất và xuất khẩu.
Đến nay, theo thống kê, có đến hơn 400 định nghĩa về Văn hóa. Tại Hội nghị quốc tế từ ngày 26/7 đến 06/8/1982 tại Mehico, UNESCO nêu trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa có nêu:
Văn hóa là tổng thể những nét riên biệt về tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Hiểu nghĩa hẹp thì Văn hóa  là tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong công đồng và đặc thù riêng có của cộng đồng.
Những nét đặc trưng về sản xuất, chế biến, pha trà, mời trà và thưởng thức trà chính là văn hóa trà. Về quá trình hình thành và phát triển văn hóa trà Việt có những đặc điểm chính sau (Trần Ngọc Thêm, 2001):

1. Về vị thế địa văn hóa, Việt Nam là giao điểm – ngã tư đường của các nền văn hóa văn minh (Olov Jansen):
– Nơi gặp gỡ giao thông thủy bộ từ Bắc xuống Nam, từ lục địa ra biển.
– Một bến cảng ngã ba đường biển Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương.
– Trải 4.000 năm, qua các thời đại lịch sử, từng chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa, văn minh Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây.

2. Về không gian, Việt nam phân thành ba vùng địa lý – khí hậu rõ rệt:
– Vùng núi cao, vùng đồi chuyển tiếp, vùng đồng bằng châu thổ các con sông. Mỗi vùng có điều kiện sinh thái, tập quán trồng và chế biến chè khác nhau.
– Sản phẩm chè tươi từ cành, lá bành tẻ của các vườn chè rải rác quanh nhà ở châu thổ. Sản phẩm chè khô từ búp và lá non của các đồi chè tập trung quy mô lớn ở miền Trung Du, núi thấp. Sản phẩm chè mạn, chè vàng từ búp và lá non của các rừng chè cây to, mọc thưa, quảng canh ở vùng núi cao.

3. Về mặt xã hội, Việt Nam là quốc gia nhiều dân tộc cư trú ở 7 vùng đặc trưng khác nhau;
– Tây Bắc, Việt Bắc, đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Nam bộ.
– Mỗi vùng có tập quán sản xuất và tiêu dùng chè khác nhau.
– Mối dân tộc, mỗi tầng lớp dân cư theo ngành nghề, độ tuổi, giới tính, mức thu nhập có thị hiếu tiêu dùng chè khác nhau.

4. Mối quan hệ giao tiếp hai chiều qua – lại giữa các nền văn hóa, thời đại xưa và nay:
– Đậm nét dung hợp giữa văn hóa bản địa với văn hóa ngoại lai với Trung Hoa, khu vực phương Đông, phương Tây và thế giới.
– Lưu giữ văn hóa xưa, hòa nhập văn hóa nay trong đương thời.
– Cấu trúc văn hóa chè Việt gồm văn hóa bản địa trên bán đảo Đông Dương (chè tươi, chè mạn, chè hương), giao lưu văn hóa Trung Hoa (trà Tàu, trà ô long …), văn hóa Nhật Bản (trà bột, trà đạo …) và phương Tây (chè đen, chè túi, chè tan nhanh …).
(TS. Chu Xuân Ái – sưu tầm và biên soạn)